Phương tiện loan báo Tin Mừng
Ở Kala cũng như Cheo Reo, linh mục trẻ Jacques Dournes triển khai những phương thế quen thuộc để hình thành các cộng đoàn Kitô giáo mới: chăm sóc bệnh nhân, đặc biệt là người phong; mở lớp học cho trẻ em; đề xuất sinh hoạt văn hóa cho người lớn. Ông coi đó vừa là việc thực thi bác ái, vừa là cách thay đổi cái nhìn của cư dân địa phương về đức tin mới mà ông giới thiệu.
Bên cạnh những chuyến đi mục vụ dày đặc, Dournes ghi chép tỉ mỉ trong nhật ký, xuất bản tập san Lam Lögar bằng tiếng Sré để cập nhật thời sự tôn giáo và chính trị, đồng thời soạn các sổ tay hướng đạo dành cho thanh thiếu niên cao nguyên.
Dù nhiệt thành đến tận khi sứ vụ kết thúc năm 1970, số người lãnh bí tích rửa tội vẫn rất ít. Ông không ngừng tự vấn và dựa ngày càng nhiều vào các giáo lý viên địa phương để neo đậu sứ điệp Tin Mừng trong hệ giá trị của người Thượng. Với cộng đoàn Jörai, ông gần như chỉ dành thời gian cho mục vụ dự tòng, tìm cách giúp đức tin Kitô giáo hòa nhập đời sống và niềm tin truyền thống.
Nghệ thuật thánh là phương thế ưu tiên của Dournes để chạm tới con tim. Tại trại phong Kerlatap, ông tự thiết kế các bích họa và kính màu cho nhà nguyện, cổ vũ việc sử dụng kỹ thuật và biểu tượng bản địa với khẩu hiệu “Không phá bỏ, mà hoàn thiện”.
“Không phá bỏ, mà hoàn thiện.”
Chiếm lĩnh ngôn ngữ
Dournes có lẽ là người phương Tây duy nhất lúc bấy giờ nói như người bản xứ hai ngôn ngữ của cư dân cao nguyên và hiểu thêm vài tiếng khác. Là nhà truyền giáo đầu tiên của người Jörai, ông phải xây dựng hệ thống ký âm và biên soạn những cuốn từ điển đầu tiên. Sau khi thấm nhuần kho từ vựng phong phú, ông tiếp tục khám phá cấu trúc và nhịp điệu của những ngôn ngữ mang đậm tính truyền khẩu ấy.
Ông dịch dần Kinh Thánh Tân Ước và Cựu Ước sang tiếng Jörai, đồng thời soạn thảo các tài liệu giáo lý và sách lễ riêng phù hợp với lối tư duy của người Thượng. Khi tìm từ ngữ cho các khái niệm thần học, ông luôn ưu tiên những hình ảnh sẵn có trong kho tàng truyền miệng: “Đón nhận từ bên trong thay vì áp đặt từ bên ngoài”. Sau nhiều tranh luận, ông là người đầu tiên phục hồi và chọn từ Ndu – vị thần tối cao trong thế giới tinh linh – để chỉ Thiên Chúa Kitô giáo.
“Quên không chỉ tiếng mẹ đẻ mà còn cả cách suy nghĩ của chính mình” là điều kiện để hiểu người khác và đem phụng vụ đến với họ.
Jörai giữa người Jörai
Từ năm 1948, người Sré đặt cho ông tên “Dam Bo” (“người da trắng”), cũng là bút danh mà ông giữ đến cuối đời. Ông hòa nhập trọn vẹn vào cộng đồng mình phục vụ, mạnh mẽ tố cáo những lạm dụng của chế độ thuộc địa: lao dịch kéo dài, tuyển mộ cưỡng bức, điều kiện lao động khắc nghiệt trong các đồn điền.
Đời sống khổ tu của Dournes được nuôi dưỡng nhờ hội linh mục Jésus-Caritas. Tại Công đồng Vatican II, ông được mời làm chuyên gia về “những hoàn cảnh truyền giáo cụ thể”, đề nghị phong chức cho các giáo lý viên đã lập gia đình và khai triển một thần học truyền giáo đặt nền tảng nơi kho tàng văn hóa bản địa.
Đối với ông, nhà truyền giáo phải trở thành “ngôn sứ – người phục vụ – người khai mở”, sống đời cầu nguyện cháy bỏng và làm chứng cho Tin Mừng theo mẫu gương Charles de Foucauld. Việc khảo sát “khu rừng tín ngưỡng và phong tục của người Jörai” là cách để ông “dịu dàng hướng cả vũ trụ thiêng liêng Jörai về với ánh sáng”.
“Nếu ở đây người lạ không có chỗ đứng, tôi phải thôi làm người lạ. Điều đầu tiên là tôn trọng con người một cách nghiêm túc; điều thứ hai là học ngôn ngữ của họ.”